Komatta na (Rắc rối rồi đây)

Nihongo Notes

  • Tác giả: Osamu Mizutani, Nobuko Mizutani
  • Chuyển ngữ: Yappa
  • Mục lục

Komatta na
こまったな
(Rắc rối rồi đây)

Cách đây mấy tuần có một chàng trai đến văn phòng gặp chị Yoshida vì công chuyện gấp. Khi anh Tanaka bảo chị ấy đã ra ngoài và phải vài giờ nữa mới quay lại, cậu ta nói:
Soo-desu-ka. Komatta-na.
そうですか。こまったな。
(Vậy à? Làm thế nào bây giờ? – Nghĩa đen: Vậy à? Rắc rối rồi đây.)
Anh Lerner từng nghe nói na chỉ được thêm vào trong câu hội thoại thông thường, vì thế anh nghĩ cậu ta hơi bất lịch sự với anh Tanaka. Nhưng có vẻ anh Tanaka không cảm thấy phật lòng gì mà còn đề nghị sẽ giúp cậu ấy liên lạc với chị Yoshida ngay khi có thể.

*  *  *

Có một số hậu tố thường được thêm vào cuối câu để thể hiện cảm xúc hoặc thái độ của người nói. Ne được dùng khi người nói mong chờ người nghe đồng ý với mình; yo được dùng khi người nói muốn nhấn mạnh câu nói của mình. Hậu tố na nếu được nói với giọng thấp như trong
  mu
Sa  i
    -na.
thể hiện cảm xúc của người nói trong một câu dạng độc thoại. Samui-na có nghĩa là “Lạnh nhỉ” và Iya-ni natchau-na nghĩa là “Ghét quá đi.” Na thường được sử dụng trong những câu có nội dung hướng đến bản thân người nói hơn là người nghe. Khi chàng trai nói Komatta-na, thì thực ra cậu ta đang nói với chính mình mặc dù anh Lerner và anh Tanaka đều có thể nghe được.

Anh Lerner nhận ra rằng người Nhật hay nói một mình giữa cuộc trò chuyện với tông giọng khác đi và dùng thể thông thường kiểu như Aa, soo-ka hay Aa, soo yuu wake-ka. Sau khi học được rằng na thường được dùng trong những câu như thế, anh để ý từ na này thường dùng chủ yếu bởi nam giới, nhưng thỉnh thoảng ngay cả phụ nữ cũng sử dụng. Anh Tanaka hay nói
A, moo jikan da-na.
(A, đã đến giờ rồi).
Và có lần anh đã nghe chị Yoshida nói
Iya-da-na, mata machigaeta.
(Chán quá. Mình lại nhầm rồi.)
khi sửa lỗi gõ nhầm của mình. (Phụ nữ hay dùng wa thay vì na.)

Tại sao người Nhật lại hay nói một mình giữa cuộc trò chuyện như vậy? Sensee nói điều đó là vì mục đích tốt. Nếu những nhận xét như Komatta-na hướng trực tiếp tới người nghe thì người đó có thể sẽ cảm thấy bị bắt buộc phải làm cái gì đó, nhưng nếu nó nhắm về bản thân người nói, người nghe có thể quyết định là giúp hoặc không. Vì thế các câu than phiền hay được nói theo kiểu này, mặc dù cũng có một vài người thích nói thẳng.

Nếu người chồng nói sau khi nếm thử trà là Nurui-na (Nó nguội mất rồi), thường thì người vợ sẽ tự đề nghị hâm nóng trà; nói Nurui-yo sẽ nghe như anh ta bắt vợ mình phải hâm nóng nó vậy.

Inai Inai Baa! Uta Uta Ippai! – Mỳ-ngon-tuyệt!

Inai Inai Baa! Uta Uta Ippai!Cũng lâu lâu mới mần tiếp 1 bài. Bài hát lần này có đủ mọi loại mỳ luôn XD~

Mỳ-ngon-tuyệt!

Dịch và sub: Yappa

Download | Xem fullscreen

Yasumu wake-niwa ikanai (Tôi không thể nghỉ được)

Nihongo Notes

  • Tác giả: Osamu Mizutani, Nobuko Mizutani
  • Chuyển ngữ: Yappa
  • Mục lục

Yasumu wake-niwa ikanai
やすむ わけには いかない
(Tôi không thể nghỉ được)

Anh Tanaka bị cảm và có vẻ rất mệt, vì vậy anh Lerner khuyên anh ấy nên xin về sớm, Anh Tanaka cảm ơn và nói:
Demo, soo yuu wake-nimo ikimasen-yo.
でも、そう いう わけにも いきませんよ。
(Nhưng tôi không thể làm vậy được đâu.)

Khi anh Lerner hỏi anh ấy vì sao lại không thể, anh ấy nói rằng anh ấy không thể về sớm khi mọi người đang làm việc vất vả được. Anh Lerner nghĩ ốm rồi còn ở lại thì cũng chẳng làm nên chuyện gì mà chỉ làm bệnh của anh ấy nặng hơn thôi, nhưng anh rất hứng thú với cách diễn đạt …wake-niwa ikanai. Sensee đã từng giải thích cho anh rằng …wake-niwa ikanai hay …wake-nimo ikanai có nghĩa là một người không thể làm việc gì đó bởi lý do xã hội. Giờ khi nghe anh Tanaka dùng nó, anh đã hiểu ý của Sensee.

*  *  *

Trong một vài cách nói để chỉ khả năng, …koto-ga dekinai(yasum)enai được dùng trong mọi trường hợp khi một ai đó không thể làm được việc gì; lý do có thể là do thể chất, xã hội hoặc cảm xúc, còn wake-niwa ikanai được dùng khi một người không thể làm được việc gì đó vì lí do xã hội. Một doanh nhân sẽ nói với vợ khi ông ta bị cảm như sau,
Yasumu wake-niwa ikanai.
やすむ わけには いかない。
(Tôi không thể nghỉ được.)
bởi ông ta cảm thấy ông ta không nên vắng mặt, mặc dù sự vắng mặt đó chẳng mấy ảnh hưởng tới đồng nghiệp của ông.

Nếu một người chồng nói với vợ mình không cần mua một bộ váy mới, cô ấy có thể nói
Demo, konna furui-no kite-iku wake-niwa ikanai-wa.
(Nhưng em không thể mặc đồ cũ như thế này được.)
Mặc dù thực tế vẫn có thể mặc nó, nhưng cảm xúc của cô ấy khiến cô ấy không thể mặc được.

…wake-niwa ikanai thường không dùng khi một thứ trên thực tế thì không làm được, nên sẽ rất kì cục nếu một người Nhật nghe thấy như thế này
Mada akanboo-da-kara aruku wake-niwa ikanai.
c
ó nghĩa là “Vì nó còn là một đứa bé nên chưa đi được.” Trong trường hợp này,
…arukenai.
sẽ thích hợp hơn.

Sukoshi tsumete-kudasaimasen-ka (Anh vui lòng ngồi dịch ra một chút có được không?)

Nihongo Notes

  • Tác giả: Osamu Mizutani, Nobuko Mizutani
  • Chuyển ngữ: Yappa
  • Mục lục

Sukoshi tsumete-kudasaimasen-ka
すこし つめてくださいませんか
(Anh vui lòng ngồi dịch ra một chút có được không?)

Tối hôm qua, anh Ernest Lerner đang đọc báo trên chuyến tàu về nhà. Có một khoảng trống giữa anh Lerner và người đàn ông ngồi cạnh. Rồi một người phụ nữ bước vào, đứng trước khoảng trống này, và nói
Sumimasen-ga.
Anh Lerner cảm giác cô ấy muốn ngồi xuống và cũng khá sẵn lòng ngồi dịch ra nhường chỗ cho cô. Nhưng anh tò mò muốn biết cách nói nào được dùng cho câu “Xin vui lòng ngồi dịch ra một chút,” nên anh chờ cô nói tiếp. Nhưng người phụ nữ không nói gì và di chuyển cánh tay như đang quét cái gì đó đi. Sau đó người đàn ông ngồi cạnh anh Lerner nhanh chóng dịch ra nhường chỗ cho người phụ nữ.

Sau này anh Tanaka cho biết cách nói bình thường trong những trường hợp thế này là
Sukoshi tsumete-kudasaimasen-ka.
すこし つめて くださいませんか。
(Nghĩa đen: Các anh có thể ngồi xích vào nhau một chút được không ạ?)
nhưng thông thường người ta không dùng nó mà chỉ thể hiện qua cử chỉ. Người phụ nữ không dùng cử chỉ để ra hiệu vì anh Lerner là người nước ngoài.

*  *  *

Ban đầu anh Lerner cho rằng người phụ nữ khá là bất lịch sự vì chỉ di chuyển cánh tay mà không nói gì. Nhưng khi nghĩ kỹ, anh nhận ra nhiều người Nhật cũng thường làm như vậy. Chẳng hạn, khi anh gặp những người làm việc trong cùng tòa nhà, một vài người chỉ cúi đầu tỏ ý “Xin chào” thay vì nói câu gì đó. Cũng như thế, khi một người đàn ông bước qua trước mặt người khác đang ngồi, anh ta thường mở bàn tay hướng lên trên, thay vì nói
Shitsuree-shimasu.
(Xin lỗi.)
Tương tự như khi mời trà, người Nhật thường chỉ nói Doozo và dùng cử chỉ tỏ ý “hãy dùng trà”. Cứ như thế, hầu hết các lời đề nghị đều có thể được thực hiện mà không dùng cách nói nào khác ngoài Sumimasen-ga hay Doozo.

Anh Lerner từng cho rằng người Nhật không sử dụng điệu bộ cử chỉ thường xuyên như người phương Tây, nhưng rồi anh nhận ra người Nhật thực sự dùng chúng rất nhiều. Điểm khác biệt là trong khi người phương Tây thường dùng cử chỉ để nhấn mạnh lời nói, thì người Nhật sử dụng chúng để thay thế cho lời nói.

Zutto Zutto Tomodachi – Ashida Mana

Lâu lắm rồi mới lại sub nhạc Nhật. Bài hát lần này rất là dễ thương luôn nhé XD~

Zutto Zutto Tomodachi – Mãi mãi, mãi mãi là bạn

~ Ashida Mana ~
Lời: Asari Shingo, Watanabe Natsumi
Nhạc: Asari Shingo
Dịch và sub: Yappa
Download

Xem fullscreen

Tag: ずっとずっとトモダチ, mana ashida