Ja… (Vậy thì…)

Nihongo Notes

  • Tác giả: Osamu Mizutani, Nobuko Mizutani
  • Chuyển ngữ: Yappa
  • Mục lục

Ja…
じゃ……
(Vậy thì…)

Tại văn phòng của anh Lerner, mọi người thường ở lại sau giờ làm và tán gẫu một lúc. Anh Lerner thì nghĩ nên về nhà ngay khi xong việc, nhưng đây có vẻ đây là điều rất phổ biến ở Nhật Bản, thế nên tối hôm qua, anh quyết định tham gia cùng mọi người xem thế nào.

Họ nói về nhiều chủ đề khác nhau trong nửa tiếng, cho đến khi anh Takada nhìn lên đồng hồ và nói
Ja, boku-wa…
じゃ、ぼくは……
(Nghĩa đen: Vậy thì, tôi…)
sau đó đứng dậy. Những người khác chào tạm biệt anh Takada rồi tiếp tục câu chuyện. Sau một khoảng im lặng, đến lượt chị Yoshida nói:
Ja, watashi-mo…
じゃ、わはしも……
(Nghĩa đen: Vậy thì, tôi cũng…)
rồi ra về. Không lâu sau, mọi người lần lượt ra về, kể cả anh Lerner.

Anh Lerner cảm thấy rất hứng thú với cách dùng này của ja. Từ điển ghi nó dạng rút gọn của dewa, có nghĩa là “vậy thì”. Nhưng anh thấy người Nhật có vẻ dùng từ này cực kì thường xuyên mà không cần câu hay cụm từ nào đứng trước “vậy thì”. Họ thường bắt đầu câu với ja như trong
Ja, sorosoro hajimemashoo-ka.
じゃ、そろそろ始めましょうか。
(Nghĩa đen: Vậy thì chúng ta dần dần bắt đầu thôi.)
Ja hay Dewa (hoặc đôi khi là Sore-ja) có nghĩa là “vậy thì” hoặc “trong trường hợp đó”. Nó được dùng để đáp lại như trong
A: Mou juuji-desu-yo. (Đã mười giờ rồi đấy.)
B: Ja, dekakemashoo. (Vậy thì đi thôi.)
Thế nhưng ja lại thường xuyên được dùng để bắt đầu một câu, chứ không phải dùng để trả lời. Ví dụ, khi rời đi thì người ta hay nói Ja… hay Ja, kore de (Nghĩa đen: Vậy thì, với cái này). Khi bắt đầu một cuộc họp hay cuộc bàn luận, người ta hay nói Ja, hajimemashoo (Vậy bắt đầu thôi). Với người nước ngoài Ja dường như không có ý nghĩa gì thực tế.

Tuy vậy, nó lại có ý nghĩa “vậy thì” trong cách suy nghĩ của người Nhật. Khi anh Takada nói Ja, trước đó anh ấy đã nhìn đồng hồ. Đồng hồ chỉ rằng đã đến lúc anh phải về, và những người khác cũng thấy anh ấy nhìn vào đó; vậy nên nhìn vào đồng hồ có nghĩa là “Đến lúc phải về rồi”, và do đó nó được theo sau bởi “Vậy tôi về đây”. Có một khoảng im lặng trong văn phòng trước khi chị Yoshida sử dụng cách nói này, và mọi người hiểu rằng đó là lí do hợp lý để chị Yoshida nói Ja. Nó có thể được diễn giải là “cuộc nói chuyện có vẻ sắp kết thúc rồi; vậy thì tôi về đây”.

Vì thế Ja thường dùng sau một hành động không kèm lời nói, hoặc một khoảng im lặng. Nếu dùng khi thiếu điều này, người Nhật sẽ thấy bị bất ngờ. Trong trường hợp này, Ja có thể được hiểu giống như “Vậy thì” trong câu “Vậy thì, chúng ta đi thôi?”

Inai Inai Baa! Uta Uta Ippai! – Nhai nhai 20 lần

Inai Inai Baa! Uta Uta Ippai!Không thể ngờ được đã hơn 1 năm kể từ lần cuối cùng mình sub series này luôn :O

Bài hát lần này là để dạy trẻ em là phải nhai kỹ khi ăn nhé =))

Không up được lên Youtube nữa vì dính bản quyền với NHK :'(

Nhai nhai 20 lần

Dịch và sub: Yappa

Download | Xem fullscreen

Sonna koto-o yuu mon-ja arimasen (Con không nên nói điều như thế)

Nihongo Notes

  • Tác giả: Osamu Mizutani, Nobuko Mizutani
  • Chuyển ngữ: Yappa
  • Mục lục

Sonna koto-o yuu mon-ja arimasen
そんな ことを いう もんじゃ ありません
(Con không nên nói điều như thế)

Gần đây anh Lerner được mời đến dùng bữa tối tại gia đình Takada. Khi mọi người nói chuyện sau bữa tối, con trai anh Takada đã nói gì đó chỉ trích bố mình. Mẹ cậu ta liền bảo:
Kodomowa sonna kotoo yuu monja arimasen.
こどもは そんな ことを いう もんじゃ ありません。
(Nghĩa đen: Trẻ con không phải là thứ có thể nói điều như thế.)
Anh Lerner hiểu rằng chị ấy đang quở trách đứa con, nhưng không rõ tại sao chị lại dùng từ mono khi nói về con mình. Vì sao chị ấy không dùng từ hito (người) mà lại là mono (thứ).

*  *  *

Từ mono (thường được nói gọn thành mon trong hội thoại) được dùng theo nhiều cách khác nhau. Một trong các cách sử dụng đó là “đáng lẽ phải làm (hoặc phải là) điều gì”. Yuu mondesu có nghĩa là “Bạn đáng lẽ phải nói điều đó”, còn Yuu monja arimasen có nghĩa là “Bạn đáng lẽ không được nói điều đó”. Khi chị Tanaka nói Kodomowa sonna kotoo yuu monja arimasen, thì ý của chị ấy là một đứa trẻ không nên nói điều như thế.

Cách diễn đạt … mondesu hoặc … monoja arimasen thường được người lớn sử dụng để khiển trách người trẻ tuổi hơn. Một bà mẹ sẽ thường nói với con mình
Sonna hono yomu monja arimasen.
(Con không nên đọc loại sách như vậy.)
hay
Okyaku-sama-niwa aisatsu-suru mon desu.
(Con nên chào hỏi khách của chúng ta.)
Một giáo viên cấp ba có thể nói với học sinh
Gakusee-wa motto benkyoo-suru mono-da.
(Học sinh nên học hành chăm chỉ hơn.)
Thậm chỉ khi một người đã trưởng thành và bắt đầu đi làm, anh ta có thể vẫn bị khiển trách bởi người lớn tuổi hơn như sau
Konna yarikata-o suru mon-ja nai.
(Cậu không nên làm theo cách như thế này.)
Đôi khi bố mẹ già lại bị con cái nhắc nhở:
Toshiyori-wa muri-o suru mon-ja nai.
(Người có tuổi thì không nên làm việc quá sức.)

Vì cách diễn đạt này được dùng tùy theo cảm nhận của người nói về sự đúng mực, thế nên rất khó để đưa ra quy tắc chung về cách sử dụng của nó trong tiếng Nhật hiện đại, khi mà lối sống và các giá trị của cảm nhận con người đang thay đổi và trở nên đa dạng hơn.

Koi nan desu – Pikuson

Lại lâu lâu mới lại sub cái gì đó. Mình chuộng gu dễ thương, nên lại là một bài hát dễ thương nhé :P~

Bài hát này nói về một câu bé yêu đơn phương mà không dám nói ra. Cảm giác thật giống mình :)))

Koi nan desu – Đấy là yêu

~ Pikuson ~
Lời: Okumura Kenichi
Nhạc: Hachisu Miyu
Dịch và sub: Yappa
Download

Tag: 恋なんです

Gomennasai (Tôi xin lỗi)

Nihongo Notes

  • Tác giả: Osamu Mizutani, Nobuko Mizutani
  • Chuyển ngữ: Yappa
  • Mục lục

Gomennasai
ごめんなさい
(Tôi xin lỗi)

Ở văn phòng anh Lerner làm việc, một buổi tiếp đón đã được tổ chức vào chiều qua để chào mừng một vị khách quan trọng. Anh Lerner được giao nhiệm vụ nói một bài phát biểu ngắn bằng tiếng Nhật. Vì mọi người đều trông rất nghiêm túc, nên anh Lerner khá là lo lắng và đọc nhầm tên của vị khách, anh nhanh chóng xin lỗi
Gomennasai.
ごめんなさい。
(Tôi xin lỗi.)
Rất nhiều người bật cười. Vì thế mà mọi người cũng bớt căng thẳng hơn, mặc dù anh Lerner thì cảm giác hơi mất tự tin về tiếng Nhật của mình.

Về sau anh Tanaka nói rằng họ cười vì Gomennasai nghe hơi yểu điệu; chị Yoshida bảo là vì cách diễn đạt đó nghe khá trẻ con.

*  *  *

Lẽ ra anh Lerner nên nói
Shitsuree-shimashita.
失礼しました。
(Nghĩa đen: Tôi đã thất lễ.)
thay vì Gomennasai. Gomennasai là một trong những cách diễn đạt thường dùng ở nhà, giữa các thành viên trong gia đình, trong khi đó Shitsuree-shimashita được sử dụng ở những tình huống xã hội. Trẻ con thường xin lỗi bố mẹ hoặc thầy cô bằng cách nói Gomennasai, nhưng Shitsurei-shimashita thường không được sử dụng giữa các thành viên trong gia đình. (Sumimasen cũng được dùng để xin lỗi. Nó ít trang trọng hơn Shitsurei-shimashita và được sử dụng ở cả trong nhà và ngoài xã hội, bởi người trưởng thành hoặc thanh thiếu niên; nếu một đứa bé nói Sumimasen với bố mẹ mình thì khá là kì cục.)

Ở ngoài xã hội, Gomennasai được sử dụng chủ yếu trong các tình huống mang tính thân mật. Hầu hết là trẻ em sử dụng; nếu giữa người lớn, thì nó được sử dụng trong hội thoại thân mật. Ví dụ, một cậu bé sẽ nói với một người lạ bị cậu vô tình giẫm vào chân khi đang trên tàu. Một người lớn tuổi có thể nói với một người trẻ hơn kể cả trong lúc làm việc, trừ khi là trường hợp bắt buộc phải nói lịch sự.

Sự khác biệt giữa cách nói lịch sự hay mang tính xã hội như Shitsuree-shimashita và cách nói thông thường như Gomennasai đang dần mờ đi. Một vài người đã bắt đầu sử dụng cách nói thông thường, kể cả cố ý hoặc không cố ý, trong các tình huống trang trọng hay mang tính xã hội. Tuy nhiên việc sử dụng đúng cách nói phù hợp trong từng tình huống vẫn rất quan trọng nếu bạn muốn trở thành một người nói tiếng Nhật giỏi.